Trận Điện Biên Phủ ( 13/ 3/1954 đến 7/5/1954)
Điện Biên Phủ còn có tên là Mường Thanh nằm về phía Tây của Lai Châu, cách biên giới Lào
Việt khoảng 8 km. Đây là vựa lúa và thuốc phiện của miền Trung Du Bắc Việt. Nó cũng là giao điểm của
hệ thống đường mòn từ Hoa Nam xuống Trung Việt, từ Thượng Lào qua Lai Châu.
Thung lủng Mường Thanh có chiều dài khoảng 20 cây số, chiều ngang khoảng 6 - 8 km vây
quanh bởi rừng núi trùng điệp, vì vậy đôi khi người ta còn gọi là Lòng chảo Điện Biên Phủ”. Con sông
Nậm Rốm ( Nam Yun ) chia đôi thung lủng chảy theo chiều Nam Bắc.Dọc theo sông Nậm Rốm là con
đường Liên Tỉnh Lộ số 41. Hai sắc dân Thái và Mèo sống với nghề trồng lúa và thuốc phiện.
Đến cuối năm 1953, chiến tranh Đông Dương đã kéo dài 8 năm, Pháp đã mệt mỏi và muốn tìm
một giải pháp có thể chấp nhận được để chấm dứt cuộc chiến nhưng mặt khác họ vẫn muốn duy trì quyền
lợi tại Đông Dương. Pháp bổ nhiệm tổng chỉ huy Henri Navarre sang Đông Dương tìm kiếm một chiến
thắng quân sự quyết định để làm cơ sở cho một cuộc thảo luận hòa bình trên thế mạnh.
Kế hoạch của bộ chỉ huy Pháp tại Đông
Dương là tập trung các lực lượng cơ động tinh nhuệ lại
thành các binh đoàn mạnh đánh tiêu diệt các đơn vị
chính quy của Việt Minh để làm thế mạnh đàm phán.
Vì vậy cứ điểm Điện Biên Phủ được ra đời để án ngữ
miền Tây Bắc Bắc Việt, kiểm soát con đường huyết
mạch tới Thượng Lào để làm bẫy nhử, thách thức quân
chủ lực Việt Minh tấn công và theo kế họach của
Pháp, quân Việt Minh sẽ bị nghiền nát tại đó.
Về phía Việt Minh, kể từ sau năm 1950 được
sự viện trợ quân sự to lớn của Trung Cộng và Liên Xô,
đã lớn mạnh rất nhiều, với các sư đoàn (đại đoàn) bộ
binh và các trung đoàn đoàn pháo binh, công binh đã
có kinh nghiệm đánh trận cấp tiểu đoàn, trung đoàn
với quân Pháp.
Tướng Giáp nhìn trận Điện Biên Phủ như cơ
hội đánh lớn, tạo chiến thắng vang dội và đã chấp
nhận thách thức của quân Pháp để tấn công tập đoàn
cứ điểm Điện Biên Phủ.
Do đó Điện biên Phủ trở thành một điểm
quyết đấu giửa Tân Tổng Tư Lệnh Pháp Henri Eugene
Navarre cùng Tướng Việt Minh Vỏ Nguyên Giáp và
các cố vấn Trung Quốc..
Phía Quân Bộ Binh Pháp : Kể từ khởi đầu chiến dịch 20/11/1953 đến 7/5/1954 đến khi ĐBP thất
thủ tổng cộng số người được tăng cường đến ĐBP là 15,709 người đến sau ngày 7/5/1954 còn lại bị bắt
làm tù binh 11,721 người trong đó hết 4,436 người bị thương. :Phía VMCS cho phép Hồng Thập Tự di
tản 858 người bị thương nặng. 4 tháng sau, VMCS chỉ hoàn trả lại cho Pháp 3,290 người, hết 70% đã
chết trong trại tù CS.
( 10.998 prisoners, 7.708 dead or missing 3.290 survivors. )
* Về Không quân Pháp bị tổn thất :
- 48 phi cơ bị phá hủy ( 28 chiếc đang bay, 20 trên phi đạo )
- 167 phi cơ bị hư hại.., 2 trực thăng bị phá hủy.
- 15 chết, 33 bị bắt, 6 mất tích.
* Về Hải Quân Pháp tổn thất :
- 8 phi cơ bị phá hủy, 19 chiếc bị hư hại.
- 6 phi công tác chiến chết.
- 2 phi công bị bắt.
* Về phía Mỹ :
- 1 phi cơ C119 bị bắn rơi.
- 2 phi công chết và 1 bị thương nặng.
* Về phía VMCS. ước lượng khoảng 8,000 chết từ 15,000 đến 20,000 mất tích, có thể chết vì thương
tật không được chăm sóc. ( theo sự ước lượng của người Pháp)
* Tù binh
Theo Jane Hamilton-Merritt thì vào ngày 8 tháng 3, sau khi Việt Minh kiểm tra số tù binh thì có
11.721 binh lính quân đội Liên hiệp Pháp đã bị bắt (bằng 1/3 số tù binh bị bắt trong cả cuộc chiến), trong
đó 4.436 người đã bị thương. Trong số người bị bắt làm tù binh có 3.290 người (phần lớn mang quốc tịch
Pháp) được trả tự do. Có những người Hmông bị những người Cộng sản Việt Nam bắt giữ từ năm 1954
cho tới tận 25 năm sau, năm 1979 khi Trung Quốc có chiến tranh với Việt Nam mới được trả tự do, chẳng
hạn như Yang Mi Cha bị Việt Minh bắt giữ khi ông ta đang phòng thủ Sở chỉ huy Điện Biên Phủ.
(Sưu tầm tham khảo)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét